ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO

Đông trùng hạ thảo trong elev8 siêu năng lượng là một loại đông dược quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nấm Ophiocordyceps sinensis thuộc nhóm nấm Ascomycetes trên cơ thể ấu trùng của một vài loài bướm trong chi Thitarodes. Phần dược tính của thuốc đã được chứng minh là do các chất chiết xuất từ nấm Ophiocordyceps sinensis.

Nó được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng.

Tên gọi “đông trùng hạ thảo” (tiếng Tạng: yartsa gunbu hay yatsa gunbu, là xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nấm Ophiocordyceps sinensis mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật (thảo mộc) hơn.

Hiện nay, do sự săn lùng và hoạt động khai thác quá mức Đông trùng hạ thảo tại Nepal, loại nấm này đang có nguy cơ tuyệt diệt.

Phân loại và tên gọi

Loài này được Miles Berkeley miêu tả khoa học lần đầu tiên năm 1843 như là Sphaeria sinensis[4]Pier Andrea Saccardo chuyển loài này sang chi Cordyceps vào năm 1878. Từ nguyên của tên khoa học xuất phát từ tiếng Latinh cord “dùi cui, gậy tày”, ceps“đầu” và sinensis “từ Trung Quốc“. Loài này được biết đến như là Cordyceps sinensis cho tới năm 2007, khi phân tích phát sinh chủng loài phân tử được sử dụng để sửa đổi phân loại của 2 họ Cordycipitaceae và Clavicipitaceae, với kết quả là tạo ra tên gọi cho một họ mới là Ophiocordycipitaceae và việc chuyển một số loài Cordyceps sang chi Ophiocordyceps.

Trong tiếng Tạng nó được biết đến như là དབྱར་རྩྭ་དགུན་འབུ་ (ZWPYyartsa gunbu , Wyliedbyar rtswa dgun ‘bu, “hạ thảo(cỏ), đông trùng (sâu bọ)”), và đây là nguồn gốc của các tên gọi trong tiếng Nepal यार्शागुम्बा, yarshagumbayarchagumba hayyarsagumba. Chuyển tự sang tiếng Bhutan là Yartsa Guenboob. Nó còn được biết đến như là keera jharkeeda jadikeeda ghas hay ‘ghaas fafoond trong tiếng Hindi. Tên gọi tiếng Trung Dōng chóng xià cǎo (冬蟲夏草) nghĩa là “đông trùng, hạ thảo” (nghĩa là “sâu mùa đông, [trở thành] cỏ mùa hè”). Tên gọi tiếng Trung là dịch theo nghĩa đen của tên gọi gốc tiếng Tạng, được thầy lang người Tạng là Zurkhar Namnyi Dorje ghi chép lại lần đầu tiên trong thế kỷ 15. Trong ngôn ngữ thông tục tiếng Tạng thì Yartsa gunbu thường được gọi tắt là “bu” hay “yartsa”.

Trong y học cổ truyền Trung Hoa, tên gọi của nó thường được viết tắt là chong cao (蟲草”trùng thảo”), một tên gọi cũng áp dụng cho các loài Cordyceps khác, như C. militaris. Trong tiếng Nhật, nó được gọi là tōchūkasō (冬虫夏草).

Điều ngạc nhiên là đôi khi trong các tài liệu Trung Hoa tiếng Anh thì Cordyceps sinensis được nhắc tới như là aweto [Hill H. Art. XXXVI: The Vegetable Caterpillar (Cordiceps robertsii). Transactions and Proceedings of the Royal Society of New Zealand 1868-1961. Quyển 34, 1901;396-401], và đó là tên gọi trong tiếng Māori để chỉ Cordyceps robertsii, một loài nấm chỉ có ở New Zealand.

Nguồn gốc

Vị thuốc này thực chất là hiện tượng ấu trùng các loài bướm thuộc chi Thitarodes bị nấm thuộc chi Ophiocordyceps và/hoặc Cordyceps ký sinh. Đó là một dạng ký sinh giữa một loài nấm túi có tên khoa học là Ophiocordyceps sinensis(Berk.) G.H.Sung, J.M.Sung, Hywel-Jones & Spatafora (2007), 1878 với sâu non (ấu trùng) của một loài côn trùng thuộc chi Thitarodes. Thường gặp nhất là sâu non của loài Thitarodes baimaensis hoặc Thitarodes armoricanus. Ngoài ra còn 46 loài khác thuộc chi Thitarodes cũng có thể bị Ophiocordyceps sinensis ký sinh. Các loài nấm này phân bố rộng ở châu Á và châu Úc với trung tâm đa dạng là vùng Đông Á, đó là các cao nguyên cao hơn mặt biển từ 4.000 đến 5.000 m như:Tây TạngTứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc, Vân Nam.

Cơ chế xâm nhiễm của loài nấm này vào cơ thể sâu hiện giờ vẫn chưa rõ. Vào mùa đông, nấm bắt đầu ký sinh vào sâu non và làm chết sâu non vì ăn hết chất dinh dưỡng của chúng. Những con sâu này có thể đã ăn phải bào tử nấm hoặc chúng mắc bệnh nấm ký sinh từ các lỗ thở. Đến khi sợi nấm phát triển mạnh, chúng xâm nhiễm vào các mô vật chủ, sử dụng hoàn toàn các chất dinh dưỡng trong cơ thể sâu. Đến một giai đoạn nhất định thường là vào mùa hè ấm áp, nấm bắt đầu mọc ra khỏi sâu như một ngọn cỏ và vươn lên khỏi mặt đất phát triển thành dạng cây (hình dạng giống thực vật) và phát tán bào tử.

Đông trùng hạ thảo chủ yếu tìm thấy vào mùa hè vùng núi cao trên 4.000m ở cao nguyên Thanh Tạng (Thanh HảiTây Tạng) và Tứ Xuyên (Trung Quốc). Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài nấm thuộc chi Ophiocordyceps và Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp để tinh chế các cơ chất có dược tính.

Mô tả

“Đông trùng hạ thảo” vào mùa hè

Hai chi nấm Ophiocordyceps và Cordyceps tương ứng có khoảng 170/570 loài khác nhau, và chỉ riêng ở Trung Quốc đã tìm thấy khoảng 60 loài. Tuy nhiên cho đến nay người ta mới chỉ nghiên cứu nhiều nhất được về hai loài Ophiocordyceps sinensis (Berk.) Sacc. vàCordyceps militaris (L. ex Fr.) Link.. Loài thứ hai được gọi là Nhộng trùng thảo.

Đông trùng hạ thảo khi còn sống, người ta có thể trông rõ hình con sâu, với đuôi là một cành nhỏ, mọc lá. Khi sấy khô, nó có mùi tanh như cá, đốt lên có mùi thơm. Phần “lá” hình dạng giống ngón tay, dài khoảng 4 – 11 cm do sợi nấm mọc dính liền vào đầu sâu non mà thành. Đầu sâu non giống như con tằm, dài chừng 3–5 cm, đường kính khoảng 0,3 – 0,8 cm. Bên ngoài có màu vàng sẫm hoặc nâu vàng với khoảng 20-30 vằn khía, vằn khía ở gần đầu nhỏ hơn. Phần đầu có màu nâu đỏ, đuôi giống như đuôi con tằm, có tất cả 8 cặp chân, nhưng 4 đôi ở giữa là rõ nhất. Chất đệm nấm hình que cong mọc ra từ mình sâu non, dài hơn sâu non một chút. Sâu non dễ bẻ gãy, ruột bên trong căng đầy, màu trắng hơi vàng; chất đệm nấm khá dai và bên trong ruột hơi rỗng, có màu trắng ngà.

Thành phần

Các phân tích hoá học cho thấy trong sinh khối của đông trùng hạ thảo có 17 axít amin khác nhau, có D-mannitol, có lipit, có nhiều nguyên tố vi lượng (AlSiKNa v.v..). Quan trọng hơn là trong sinh khối đông trùng hạ thảo có nhiều chất hoạt động sinh học mà các nhà khoa học đang phát hiện dần dần ra nhờ các tiến bộ của ngành hoá học các hợp chất tự nhiên. Nhiều hoạt chất này có giá trị dược liệu cao. Trong đó phải kể đến axít cordicepticcordycepinadenosin, hydroxyethyl-adenosin. Đáng chú ý hơn cả là nhóm hoạt chất HEAA (Hydroxy-Etyl-Adenosin- Analogs). Đông trùng hạ thảo còn có chứa nhiều loại vitamin (trong 100 g đông trùng hạ thảo có 0,12 g vitamin B12; 29,19 mg vitamin A; 116,03 mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin B2 (riboflavin), vitamin E, vitamin K…)

Công dụng

Theo các ghi chép về đông dược cổ, đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bồi bổ hết sức quý giá, có tác dụng tích cực với các bệnh như thận hư, liệt dươngdi tinh, đau lưng mỏi gốiho hen do phế hư hoặc cả phế, thận đều hư, và có tác dụng tốt đối với trẻ em chậm lớn.

Đông trùng hạ thảo  là một trong những vị thuốc quý của đông y, được khai thác khó khăn, có khả năng bồi bổ và tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống tình dục, tăng cường khả năng miễn dịch. Mặt khác các nghiên cứu cổ truyền cũng như các thực nghiệm hiện đại đều xác định đông trùng hạ thảo hầu như không có tác dụng phụ đối với cơ thể người và động vật. Liều uống Đông trùng hạ thảo an toàn đối với chuột thí nghiệm là trên 45g/1 kg thể trọng.

Sử dụng

Tuỳ theo từng bài thuốc mà đông trùng hạ thảo tham gia, người ta có các chế biến nó khác nhau. Phổ biển nhất là hầm lên hoặc ngâm rượu. Cần phải phân biệt loại đông trùng hạ thảo dùng trong đông y và các chất có dược tính được tinh chế từ các chi nấm Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp.

Đông trùng hạ thảo phát triển như thế nào

Đông trùng hạ thảo là một trong những mặt hàng sinh vật đắt nhất thế giới, có thể chữa đau nhức, điều trị ung thư và tăng cường khả năng sinh sản

Theo Earth Touch News, về mặt thuật ngữ, đông trùng hạ thảo ở Tây Tạng được biết đến rộng rãi với cái tên yartsa gunbu, nghĩa là “cỏ mùa hè, sâu mùa đông”. Trung Quốc thường rút ngắn tên gọi này thành “trùng thảo”. Đông trùng hạ thảo thực chất không phải là thảo (cỏ) hay trùng (sâu). Nó hình thành do nấm Ophiocordyceps sinensis sống ký sinh trên thân sâu bướm thuộc chi bướm ma Thitarodes.

Loại nấm sâu bướm O. sinensis sống trên những cánh đồng cỏ thuộc trung tâm châu Á. Phạm vi phân bố của nó ở độ cao trên 3.000 m, chủ yếu ở vùng cao nguyên Tây Tạng, phía bắc kéo dài đến dãy núi Kỳ Liên (Trung Quốc), phía nam tới cao nguyên của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và phía tây tới bang Uttarakhand, Ấn Độ.

Giống như nhiều loài ký sinh trùng, nấm O. sinensis xâm chiếm phần bên trong cơ thể của sâu bướm khi ấu trùng lột xác vào thời điểm nóng nhất của mùa hè. Nó ăn các mô của vật chủ, khiến ấu trùng thường chết sau vài tuần phía dưới mặt đất khoảng 2 – 5 cm.

Lớp vỏ bọc bên ngoài của sâu bướm vẫn nguyên vẹn, nhưng cơ thể của nó giống như một xác ướp. Khi mùa xuân đến, nấm phát triển quả thể (fruiting body) mọc ra khỏi đầu vật chủ ký sinh và nhô lên khỏi mặt đất. Toàn bộ xác sâu bướm dưới lòng đất và quả thể nấm phía trên gọi là đông trùng hạ thảo.

Tác dụng dược liệu và bồi bổ cơ thể của đông trùng hạ thảo được quảng bá ở Tây Tạng ít nhất từ thế kỷ 15, với chức năng nổi bật nhất là thúc đẩy sản xuất tinh dịch ở nam giới. Điều này có thể xuất phát từ việc người dân quan sát thấy những con bò Tây Tạng tăng cường sinh lực khi ăn đông trùng hạ thảo.

Đến thế kỷ 17, đông trùng hạ thảo trở thành loại dược liệu y học cổ truyền phổ biến của Trung Quốc. Vì giá thành cực đắt, chỉ hoàng gia hoặc giới quý tộc mới có tiền mua chúng.

Trong vài thập kỷ qua, nhu cầu sử dụng động trùng hạ thảo tăng vọt. Giá bán trên thị trường ở Tây Tạng, nơi cung cấp 96% sản lượng đông trùng hạ thảo, tăng 900% từ năm 1997 đến 2008.

Tại Nepal, giá bán tăng lên vọt 2.300% giữa năm 2001 và 2011. Một pound (1 pound = 0,454 kg) đông trùng hạ thảo loại tốt nhất có giá khoảng 50.000 USD.

Ở nhiều nơi tại Tây Tạng, ngành công nghiệp khai thác đông trùng hạ thảo tạo ra 40 – 80% thu nhập cho người dân địa phương. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc khai thác quá mức đông trùng hạ thảo khiến số lượng của chúng ngày càng giảm xuống. Các nhà bảo tồn lo ngại điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến thiên nhiên và môi trường.

Nguồn: http://nangluongxanh.top/2018/06/02/cordyceps-dong-trung-ha-thao-trong-elev8-sieu-nang-luong/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *